VN Core đóng góp gì cho khung kiến trúc dữ liệu y tế
Khung kiến trúc số và khung dữ liệu đặt yêu cầu ở mức nguyên tắc và mô hình: định danh dùng chung, danh mục dùng chung, từ điển dữ liệu, chuẩn liên thông. Một bộ HL7 FHIR Core quốc gia có thể chuyển những yêu cầu đó thành đặc tả máy đọc được và kiểm tra hợp lệ được. VN Core là bản nháp công khai do Omi HealthTech khởi xướng để cộng đồng rà soát. Bài này trình bày những gì VN Core hiện đóng góp theo từng lớp dữ liệu, và những gì VN Core chưa làm.
Tóm tắt nhanh
- VN Core là bản nháp để cộng đồng rà soát (Draft for Community Review). Tài liệu chưa được cơ quan nhà nước hoặc HL7 International phê duyệt thành tiêu chuẩn chính thức.
- Phần đóng góp nằm ở lớp đặc tả: định danh dùng chung (NamingSystem), bộ mã có căn cứ pháp lý và tách giai đoạn hiệu lực (CodeSystem, ValueSet), cấu trúc trao đổi FHIR R4 (profile, CapabilityStatement), ánh xạ sang chuẩn quốc tế (ConceptMap), cấu trúc 18 danh mục của Từ điển dữ liệu dùng chung Bộ Y tế (logical model) và sổ văn bản pháp lý máy đọc được.
- Lựa chọn HL7 FHIR R4 bám theo lộ trình xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu của Khung kiến trúc số Bộ Y tế (QĐ 2146/QĐ-BYT) và định hướng bảo đảm khả năng tương thích với chuẩn dữ liệu quốc tế trong khung dữ liệu y tế (QĐ 2113/QĐ-BYT). Các văn bản này không buộc cơ sở y tế lưu trữ dữ liệu nội bộ theo FHIR và không nêu tên một Implementation Guide cụ thể nào.
- Giới hạn hiện tại: không vận hành dịch vụ thuật ngữ công khai; một số ánh xạ mới ở mức một phần; không phải đặc tả API của cổng Bảo hiểm xã hội hay VNeID.
Nội dung trang
- VN Core đứng ở đâu trong hệ thống khung kiến trúc
- Định danh dùng chung → NamingSystem
- Danh mục dùng chung → CodeSystem và ValueSet có căn cứ, có giai đoạn hiệu lực
- Chuẩn liên thông → profile, CapabilityStatement, ActorDefinition
- Ánh xạ ngữ nghĩa → ConceptMap
- Dữ liệu cho người dân và dữ liệu bảo hiểm
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân → Consent, Provenance, AuditEvent
- Quản trị chất lượng đặc tả
- Từ điển dữ liệu dùng chung Bộ Y tế (QĐ 2113/QĐ-BYT)
- Những gì VN Core chưa làm
- Câu hỏi thường gặp
- Đọc tiếp
1. VN Core đứng ở đâu trong hệ thống khung kiến trúc
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (QĐ 1425/QĐ-TTg), Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia (QĐ 2439/QĐ-TTg), Khung kiến trúc số Bộ Y tế (QĐ 2146/QĐ-BYT) và khung dữ liệu y tế (QĐ 2113/QĐ-BYT) mô tả hệ thống cần có những lớp, thành phần, nguyên tắc và lộ trình nào. Khung quốc gia tự nêu các yêu cầu của mình ở mức nguyên tắc, định hướng; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cụ thể do cơ quan quản lý chuyên ngành ban hành. Ở ngành y tế, Khung kiến trúc số Bộ Y tế giao Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo làm đầu mối xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi của CSDL quốc gia về y tế và các CSDL chuyên ngành y tế trong năm 2026.
VN Core làm việc ở tầng chi tiết này như một đóng góp kỹ thuật mở để đối chiếu, không phải tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước ban hành. VN Core dùng các cơ chế chuẩn của FHIR R4 (profile, extension, CodeSystem, ValueSet, NamingSystem, ConceptMap, CapabilityStatement) để mô tả dữ liệu y tế Việt Nam theo cách máy kiểm tra hợp lệ được. VN Core không thay thế cơ sở dữ liệu, nền tảng hay danh mục do cơ quan nhà nước quản lý. Việc tham khảo hay áp dụng VN Core ở phạm vi nào cần quyết định của cơ quan có thẩm quyền, thông qua quy trình quản trị và Working Group đa bên.
Canonical http://fhir.hl7.org.vn/core, phiên bản FHIR 4.0.1. Bản phát hành hiện tại gồm 9 gói, trong đó gói tổng hợp hl7.fhir.vn.core và các gói mô-đun (lõi, nộp dữ liệu BHYT, thuật ngữ lâm sàng, thuật ngữ y học cổ truyền, thiết bị y tế, dược, dữ liệu cho người dân, pháp lý).
2. Định danh dùng chung → NamingSystem
Kiến trúc liên thông cần định danh thống nhất người, cơ sở và người hành nghề giữa các hệ thống. Nguyên tắc có bằng chứng quốc tế là tái dùng chuẩn định danh sẵn có của nhà nước thay vì dựng hệ song song (xem bài Nguyên tắc kiến trúc liên thông).
VN Core khai báo 39 NamingSystem. Một số ví dụ:
- Số định danh cá nhân (12 chữ số trên thẻ căn cước, Bộ Công an quản lý) là định danh công dân dùng cho kết nối bệnh án điện tử theo TT 13/2025/TT-BYT.
- Mã cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gồm 5 chữ số. Tại lần xác minh ngày 23/07/2026, chưa có văn bản cấp lại hệ mã sau sắp xếp còn 34 tỉnh, thành phố; cơ sở giữ mã cũ đến khi được cấp mã mới.
- Chứng chỉ hành nghề đã cấp tiếp tục được dùng trong giai đoạn chuyển đổi sang giấy phép hành nghề. Trạng thái pháp lý của chứng chỉ được ghi ở một extension riêng, không suy ra từ loại định danh.
- Tài khoản VNeID: trong thiết kế của VN Core, tài khoản VNeID không dùng làm định danh chính của người bệnh; VNeID thuộc lớp ứng dụng cho người dân, xác thực hoặc tích hợp.
3. Danh mục dùng chung → CodeSystem và ValueSet có căn cứ, có giai đoạn hiệu lực
Danh mục dùng chung chỉ dùng chung được khi mỗi bên biết rõ mã thuộc danh mục nào, phiên bản nào, căn cứ văn bản nào và còn hiệu lực đến khi nào. VN Core hiện có 207 CodeSystem và 232 ValueSet. Chính sách đặt tên và phiên bản (ADR-0017, được bổ sung bằng RFC-VNCORE-NAMING-02 từ 17/09/2026) quy định:
- Định danh của artifact mới không chứa số hiệu văn bản, năm ban hành, số lượng mã hay vị trí phụ lục. Định danh và mã đã công bố được giữ nguyên, kể cả một số định danh cũ có số hiệu văn bản. Căn cứ pháp lý nằm trong siêu dữ liệu và trỏ tới sổ văn bản pháp lý của dự án.
- Phiên bản nghiệp vụ của bộ mã gắn với ngày hiệu lực của văn bản nguồn, độc lập với phiên bản IG.
- Khi một mã đổi nghĩa giữa hai giai đoạn hiệu lực, bộ mã được tách canonical: giai đoạn cũ giữ nguyên, bất biến, để dữ liệu lịch sử vẫn được hiểu đúng. Danh mục đơn vị hành chính là ngoại lệ có phạm vi hẹp: dùng một canonical thống nhất, có lịch sử theo cấp.
Nếu không tách giai đoạn hiệu lực, cùng một mã có thể mang hai nghĩa trong hai năm khác nhau mà hệ thống nhận không phân biệt được. Chính sách này ra đời sau khi rà soát phát hiện đúng lỗi đó ở một danh mục đối tượng khám sức khoẻ.
Một số yêu cầu của Từ điển dữ liệu dùng chung có cơ chế kỹ thuật tương ứng trong FHIR và trong chính sách của VN Core:
| Yêu cầu của Từ điển dữ liệu dùng chung (QĐ 2439/QĐ-TTg) | Cơ chế tương ứng trong FHIR và VN Core |
|---|---|
| Mỗi thuật ngữ có mã định danh duy nhất, không thay đổi, tuân thủ ISO/IEC 11179 hoặc W3C URI | Mỗi CodeSystem, ValueSet, NamingSystem có canonical URL; khi một mã đổi nghĩa, bộ mã được tách canonical thay vì ghi đè nghĩa cũ |
| Tên nghiệp vụ hỗ trợ tiếng Việt và tiếng Anh | Nhãn tiếng Việt kèm designation tiếng Anh ở phần lớn bộ mã |
| Cơ chế phiên bản hoá, ghi nhật ký thay đổi, duy trì phiên bản cũ một thời gian | Phiên bản nghiệp vụ gắn ngày hiệu lực của văn bản nguồn; giai đoạn hiệu lực cũ được giữ nguyên |
| Khả năng tương tác quốc tế qua cơ chế ánh xạ tới chuẩn quốc tế | ConceptMap, mỗi ánh xạ ghi mức tương đương |
| Danh mục dùng chung là bảng mã do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành | Bộ mã khai căn cứ pháp lý trong siêu dữ liệu, trỏ tới sổ văn bản pháp lý của dự án |
Đây là tương ứng về cơ chế kỹ thuật, không phải khẳng định VN Core đã được đưa vào Từ điển dữ liệu dùng chung. Quy trình đề xuất, rà soát, tham vấn, phê duyệt và đăng ký từ vựng thuộc về cơ quan quản lý hệ thống Từ điển dữ liệu dùng chung.
4. Chuẩn liên thông → profile, CapabilityStatement, ActorDefinition
Khung kiến trúc số Bộ Y tế đưa HL7 FHIR R4 vào lộ trình xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu. VN Core cụ thể hoá lựa chọn này bằng 99 profile và 78 extension.
Profile mới trả lời câu hỏi "dữ liệu có cấu trúc gì". Liên thông còn cần trả lời "hệ thống nào làm gì". VN Core khai báo 10 CapabilityStatement và các ActorDefinition cho những vai trò như bên gửi, bên nhận, kho bệnh án điện tử, ứng dụng của người dân, bên gửi và bên giám định hồ sơ BHYT, cổng dịch vụ công. Một cổng kiểm riêng bảo đảm các bản khai năng lực máy chủ tự nhất quán về tương tác đọc, ghi và điều kiện tạo mới.
5. Ánh xạ ngữ nghĩa → ConceptMap
Dữ liệu cũ và dữ liệu đa nguồn cần được ánh xạ sang thuật ngữ tham chiếu. Sổ tay WHO–ITU coi đây là việc tốn công nhưng không tránh được. VN Core hiện có 25 ConceptMap, mỗi ConceptMap ghi rõ phạm vi và mức tương đương:
- Chỉ số cận lâm sàng sang LOINC: ánh xạ 2.964 chỉ số của danh mục mã dùng chung chỉ số cận lâm sàng Đợt 1 (QĐ 1227/QĐ-BYT) sang LOINC. Ở đây phân loại mức tương đương (tương đương hay mã LOINC rộng hơn) là phân loại theo quy tắc suy luận, chưa phải kết luận thẩm định chuyên môn.
- ICD-10 Việt Nam sang ICD-10 của WHO: cầu định danh cho các mã có mã WHO tương ứng; phần mở rộng riêng của Việt Nam không có đích ánh xạ. Việc đối chiếu dựa trên tuyên bố của phụ lục văn bản ban hành, không đối chiếu trực tiếp cơ sở dữ liệu của WHO.
- ICD-10 Việt Nam sang SNOMED CT: tập khởi đầu 143 chẩn đoán phổ biến, dùng khi chiếu tóm tắt sức khoẻ sang International Patient Summary; artifact ở trạng thái thử nghiệm.
- Bệnh danh và thể lâm sàng y học cổ truyền sang ICD-10: phủ đủ các mã của bộ bệnh danh, toàn bộ ở mức "có liên quan", không tuyên bố đồng nghĩa; artifact còn ở trạng thái thử nghiệm. Nhánh chẩn đoán y học cổ truyền chưa ánh xạ vì phụ lục nguồn không có cột ICD-10.
6. Dữ liệu cho người dân và dữ liệu bảo hiểm
Tóm tắt sức khoẻ hai lớp. VN Core tách profile nội địa cho tóm tắt hồ sơ sức khoẻ (mã Việt Nam) khỏi profile International Patient Summary (kế thừa IPS quốc tế). Thao tác $summary là điểm chiếu từ dữ liệu nội địa sang bản tóm tắt IPS.
Logical model mô tả dữ liệu nguồn trước. Với các định dạng dữ liệu ngoài FHIR như chuẩn dữ liệu đầu ra phục vụ giám định BHYT (QĐ 3176/QĐ-BYT), VN Core dùng logical model mô tả đúng cấu trúc nguồn; kiểu FHIR đích chỉ xuất hiện trong phần ánh xạ. Cách làm này tránh mất dữ liệu khi ép kiểu. Các logical model này không phải đặc tả API của Cổng tiếp nhận dữ liệu BHYT hay của VNeID.
7. Bảo vệ dữ liệu cá nhân → Consent, Provenance, AuditEvent
Dữ liệu y tế là dữ liệu cá nhân nhạy cảm. VN Core có profile cho Consent (sự đồng ý), Provenance (nguồn gốc dữ liệu) và AuditEvent (nhật ký truy cập), kèm bộ mã về phương thức, mục đích và loại đồng ý, cùng một logical model riêng cho hồ sơ đồng ý xử lý dữ liệu cá nhân. Các artifact này hỗ trợ ghi nhận căn cứ và truy vết; chúng không tự tạo ra căn cứ pháp lý cho việc xử lý dữ liệu.
8. Quản trị chất lượng đặc tả
- Sổ văn bản pháp lý máy đọc được. Mỗi văn bản được viện dẫn có ngày ban hành, ngày hiệu lực, trạng thái (còn hiệu lực, được sửa đổi, sắp có hiệu lực, chuyển tiếp, bị thay thế, hết hiệu lực) và quan hệ thay thế. Sổ tự nêu giới hạn: đây là sổ làm việc của dự án, không phải danh mục pháp luật quốc gia đầy đủ và không phải tư vấn pháp lý.
- Cổng kiểm tự động trước mỗi commit: dựng IG, trích dẫn pháp lý, hiệu lực căn cứ, chính sách đặt tên bộ mã, toàn vẹn ConceptMap và nhiều phép kiểm khác.
- Sổ phủ kiểm ghi trạng thái từng phép kiểm theo từng artifact.
9. Từ điển dữ liệu dùng chung Bộ Y tế (QĐ 2113/QĐ-BYT)
Phụ lục 1 của QĐ 2113/QĐ-BYT mô tả cấu trúc trường của 18 danh mục dữ liệu dùng chung Bộ Y tế nhưng không công bố mã hay giá trị của các danh mục. Bản phát hành 0.10.0 của VN Core biểu diễn phần cấu trúc kiểm chứng được này:
- 18 logical model, mỗi logical model ứng với một danh mục, giữ nguyên thứ tự, tên trường và mô tả của phụ lục; tổng cộng 86 trường. Phụ lục ghi ba kiểu dữ liệu (Chuỗi, Ký tự, Logic); VN Core biểu diễn 68 trường kiểu Chuỗi hoặc Ký tự thành kiểu string và 18 trường kiểu Logic thành kiểu boolean. Văn bản không quy định trường nào bắt buộc, nên VN Core để mọi trường ở mức tuỳ chọn (0..1). Đây là quyết định mô hình hoá của dự án, không phải yêu cầu của văn bản.
- Bảng nhóm dữ liệu ở Phụ lục 2 (20 nhóm dữ liệu, 9 mã theo mô hình tham chiếu dữ liệu DRM in trong văn bản) được lưu làm bảng tra nguồn. Các mã DRM chưa được đưa thành CodeSystem vì văn bản chưa xác lập chúng là một hệ mã.
- 25 thành phần siêu dữ liệu của Từ điển dữ liệu dùng chung (Mục VII) được đối chiếu với chỗ mang tương ứng gần nhất trong FHIR và trong quy trình quản trị của dự án.
VN Core tách việc biểu diễn cấu trúc khỏi mức phủ ngữ nghĩa. Mọi trường đều có chỗ trong logical model. Nhưng chỉ 14 trong 86 trường có đích nghiệp vụ hiện hành kiểm tra được trong VN Core; 44 trường có đích gần hoặc bao quát một phần, không được coi là tương đương; 28 trường còn lại hiện chỉ được giữ cấu trúc, chưa có đích nghiệp vụ. Ví dụ, danh mục mã đối tượng khám bệnh, chữa bệnh được nối với bộ mã đối tượng đến khám bệnh, chữa bệnh sẵn có của VN Core: ba cột nguồn (trường hợp, quy định, mức hưởng) được bổ sung thành thuộc tính của 27 mã sẵn có, không đổi mã hay tên hiển thị.
Logical model ở đây mô tả cấu trúc danh mục, không phải danh mục mã hoàn chỉnh. VN Core không tự tạo giá trị cho các danh mục mà văn bản chưa công bố. Khi Bộ Y tế công bố giá trị danh mục, đặc tả trao đổi hoặc sửa đổi QĐ 2113/QĐ-BYT, các artifact này cần được đối chiếu lại.
10. Những gì VN Core chưa làm
- Không vận hành dịch vụ thuật ngữ công khai. Máy chủ thuật ngữ của dự án chỉ phục vụ dựng và kiểm tra IG nội bộ.
- Không phải đặc tả API của cổng Bảo hiểm xã hội, VNeID hay các cổng dịch vụ công.
- Nhiều ánh xạ ở mức khởi đầu hoặc một phần; kế hoạch phát hành sau có mục phủ trọn hai chiều các bảng dữ liệu đầu ra BHYT.
- Chưa có giá trị mã cho 18 danh mục của Từ điển dữ liệu dùng chung Bộ Y tế vì văn bản chưa công bố; 28 trong 86 trường hiện chỉ được giữ cấu trúc, chưa có đích nghiệp vụ.
- Chưa được cơ quan nhà nước hoặc HL7 International phê duyệt.
11. Câu hỏi thường gặp
VN Core có phải là tiêu chuẩn quốc gia không?
Không. VN Core là bản nháp công khai để cộng đồng rà soát. Việc công nhận hoặc áp dụng thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước.
Dùng VN Core có nghĩa là đã tuân thủ khung kiến trúc số không?
Không. Mức tuân thủ khung kiến trúc được đánh giá, giám sát theo phương pháp và bộ chỉ số do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hướng dẫn; cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư chịu trách nhiệm về tính tuân thủ. VN Core chỉ cung cấp đặc tả trao đổi dữ liệu có thể dùng làm một thành phần kỹ thuật.
Cơ sở y tế có phải lưu dữ liệu nội bộ theo FHIR không?
Không. Các văn bản khung hiện hành nêu HL7 FHIR R4 cho cơ chế liên thông và nêu việc bảo đảm khả năng tương thích với chuẩn quốc tế; không văn bản nào trong nhóm này bắt buộc cơ sở y tế lưu trữ dữ liệu nội bộ theo FHIR.